Trang chủ -> LỊCH SỬ VIÊT NAM -> Chương IV. Thời Bắc thuộc lần thứ 1 (207 TCN? - 39) - HÀNH CHÍNH VIỆT NAM THỜI BẮC THUỘC LẦN THỨ NHẤT
 05/10/2014 20:44 


HÀNH CHÍNH VIỆT NAM THỜI BẮC THUỘC LẦN THỨ 1


Tùy theo quan điểm của các sử gia, thời kỳ Bắc thuộc lần 1 của Việt Nam kéo dài ít nhất là 150 năm và lâu nhất là 246 năm (xem bài Bắc thuộc lần 1). Việc xem xét hành chính Việt Nam thời Bắc thuộc lần 1 được các nhà nghiên cứu Việt Nam chủ yếu dựa theo cuốn sách cổ về địa lý của Trung Quốc là Thủy kinh chú (Hán tự: 水經注) để phân tích và xác định địa giới chi tiết của các đơn vị hành chính quận, huyện.

Khái quát

Với những quan điểm khác nhau, thời Bắc thuộc lần 1 có thể gồm 2 triều đại cai trị là nhà Triệu và nhà Hán hoặc chỉ có nhà Hán.

Theo sử sách, Triệu Đà chia lãnh thổ Âu Lạc cũ làm hai quận () là Giao Chỉ (交阯 hoặc 交趾) và Cửu Chân (九真). Bên dưới cấp quận không có đơn vị hành chính khác. Vì vậy, việc xem xét các đơn vị hành chính Việt Nam trong thời Bắc thuộc lần 1 chủ yếu là hành chính thời thuộc Tây Hán và những năm đầu thuộc Đông Hán, gồm 150 năm (111 TCN – 39), dù thời Bắc thuộc lần 1 có tính thời gian cai trị của nhà Triệu hay không.

Nhà Hán đánh chiếm Nam Việt năm 111 TCN, chia lãnh thổ Nam Việt làm chín quận là: Nam Hải (南海), Hợp Phố (合浦) (Quảng Đông ngày nay), Thương Ngô (蒼梧), Uất Lâm (鬱林) (Quảng Tây), Chu Nhai (珠崖), Đạm Nhĩ (儋耳) (đảo Hải Nam), Giao Chỉ, Cửu Chân (Âu Lạc cũ), Nhật Nam (日南). Riêng đối với quận Nhật Nam, khi Lộ Bác Đức (路博德) đánh bại nhà Triệu, lãnh thổ Nam Việt chưa bao gồm quận Nhật Nam (từ Quảng Bình tới Bình Định, đầu địa giới Phú Yên). Quận Nhật Nam chỉ hình thành sau khi các quan cai trị Giao Chỉ người Hán tiến xuống phía nam quận Cửu Chân thu phục các bộ tộc phía Nam dãy Hoành Sơn. Ba quận thuộc lãnh thổ Việt Nam hiện nay là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam.

Năm 106 TCN, Hán Vũ Đế đặt bộ Giao Chỉ, thống suất bảy quận ở lục địa, trị sở đặt tại quận Giao Chỉ là quận lớn và quan trọng nhất.

Trong Bộ Giao Chỉ, đơn vị hành chính liền kề là quận, dưới quận là các huyện.

Các đơn vị hành chính

Quận Giao Chỉ

1. Vị trí, dân số

Quận Giao Chỉ được xác định vị trí là đất Bắc Bộ Việt Nam và một phần phía tây nam tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) hiện nay (từ sông Uất hay Tây Giang về phía nam), trừ đi những phần đất sau:

1. Góc miền núi tây bắc ngoài phạm vi thống trị của nhà Hán.

2. Góc tây nam Ninh Bình thuộc về huyện Vô Công, quận Cửu Chân

3. Vùng duyên hải từ tỉnh Thái Bình đến huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình khi đó chưa được bồi đắp thành đất liền (vẫn là biển).

Theo Hán thư, quận Giao Chỉ thời Hán có 92.440 hộ - 746.237 người.

2. Các huyện

Giao Chỉ gồm có 10 huyện () như sau:

1. Liên Lẩu: tương đương phần lớn tỉnh Bắc Ninh. Địa danh này hay bị dịch lầm là "Luy Lâu" hoặc "Liên Lâu".

2. An Định (安定): tương đương miền Hải Dương và Hưng Yên, ở giữa sông Thái Bình và sông Hồng.

3. Câu Lậu (苟漏 hoặc 笱屚 hoặc 句屚): tương đương tỉnh Nam Định và Ninh Bình, không kể vùng đông nam Nam Định và phía nam Ninh Bình lúc đó vẫn là biển, chưa được bồi đắp.

4. Mê Linh (麊泠 hoặc 麋泠): gồm khu vực tây bắc tỉnh Vĩnh Phúc, tây bắc tỉnh Hà Tây cũ và tỉnh Yên Bái.

5. Khúc Dương (曲昜): tương đương huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương, huyện Đông Triều và Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh trải lên phía bắc tới vùng Khâm châu thuộc Quảng Tây, Trung Quốc.

6. Bắc Đái (北帶): tương đương huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang và huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương.

7. Kê Từ (稽徐): tương đương huyện Lạng Giang và huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang.

8. Tây Vu (西于): tương đương tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, phía bắc Hà Tây cũ và Hòa Bình.

9. Long Uyên (龍淵): Tức Long Biên (龍編) về sau, tới thời thuộc Đường kiêng húy Đường Cao Tổ là Lý Uyên (李淵) mới đổi là Long Biên. Địa bàn tương đương gồm trung tâm Hà Nội và các huyện Hoài Đức, Thường Tín (Hà Nội), Khoái Châu (Hưng Yên), huyện Thuận Thành, huyện Quế Võ và Yên Phong tỉnh Bắc Ninh trở lên phía bắc, bao gồm cả các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng và một phần phía tây nam tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Đây là huyện lớn nhất mà các đời sau còn chia tách để lập ra các quận, huyện khác.

10. Chu Diên (朱鳶): tương đương phía nam tỉnh Hà Tây cũ, huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình và tỉnh Hà Nam.

Quận trị Giao Chỉ lần lượt ở Mê Linh, Liên Lẩu và Long Uyên.

Quận Cửu Chân

1. Vị trí, dân số

Quận Cửu Chân được xác định vị trí từ góc tây nam tỉnh Ninh Bình đến tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.

Quận Cửu Chân thời Hán có 35.743 hộ - 166.013 người.

2. Các huyện

Quận trị Cửu Chân được xác định ở huyện Tư Phố. Cửu Chân gồm có bảy huyện như sau:

1. Vô Thiết (無切): tương đương với Nho Quan, Yên Khánh tỉnh Ninh Bình hiện nay.

2. Vô Biên (無編): tương đương huyện Vĩnh Lộc, Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa

3. Tư Phố (胥浦): địa bàn tương đương huyện Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa và bắc Diễn Châu tỉnh Nghệ An

4. Cư Phong (居風): tương đương phía tây nam tỉnh Thanh Hóa

5. Dư Phát (餘發): tương đương các huyện Nga Sơn và Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa

6. Đô Lung (都龐): tương đương vùng thượng lưu sông Mã

7. Hàm Hoan (咸驩 hoặc 咸懽 hoặc 鹹驩): tương đương Nghệ An và Hà Tĩnh, là huyện lớn nhất ở cực nam Cửu Chân. Trước khi mở đất Nhật Nam, đây là huyện cực nam trong vùng cai trị của nhà Hán.

Quận Nhật Nam

1. Vị trí, dân số

Quận Nhật Nam do nhà Hán mở rộng xuống phía nam quận Cửu Chân, sau khi diệt Nam Việt. Quận Nhật Nam có tên là "Nhật Nam đình" (日南亭) trong 15 năm dưới thời nhà Tân (8-23) khi Vương Mãng tiến hành cải cách hành chính. Vị trí Nhật Nam được xác định là từ Quảng Bình tới địa giới Bình Định, Phú Yên hiện nay.

Quận Nhật Nam thời Hán có 15.460 hộ - 69.485 người.

2. Các huyện

Quận trị Nhật Nam tại huyện Tây Quyển. Nhật Nam gồm có 5 huyện như sau:

1. Tây Quyển (西卷): vùng sông Gianh, bắc Quảng Bình.

2. Chu Ngô (硃吾): khoảng sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị.

3. Lô Dung (盧容): miền Thừa Thiên, lưu vực sông Hương và sông Bồ.

4. Ty Ảnh (比景): nam Quảng Bình, khoảng từ sông Nhật Lệ đến sông Bến Hải.

5. Tượng Lâm (像林): từ đèo Hải Vân đến mũi Đại Lãnh (tỉnh Phú Yên).

Bộ máy cai trị

Triệu Đà chia lãnh thổ Âu Lạc cũ làm hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, trông coi hai quận này là hai viên quan sứ đại diện cho triều đình Phiên Ngung.

Khi chiếm Nam Việt đặt Bộ Giao Chỉ, nhà Hán cử người đứng đầu là thứ sử (刺史) (như chức đứng đầu các châu tại Trung Quốc), phụ trách chung toàn bộ công việc của các quận trực thuộc. Tại từng quận, nhà Hán đặt một viên thái thú (太守) coi việc dân sự và một viên đô uý (都尉) coi việc quân sự. Tại các huyện, chế độ lạc tướng cha truyền con nối của người Việt vẫn được duy trì, nhà Hán "dùng tục cũ để cai trị".

                                                                                                                                                [quay lại]


Tổng số thành viên: 16931
Thành viên mới nhất: phamthivanoanh
Đang trực tuyến: 20
Lượt truy cập: 1198772